Kiến thức, kinh nghiệm và sự tận tâm

Án oan sai và vai trò của luật sư


Hầu hết các vụ án đã được đưa ra xét xử trong thời hạn luật định, chất lượng tranh tụng tại phiên tòa từng bước được nâng cao, tỷ lệ bản án, quyết định về hình sự bị sửa, hủy do lỗi chủ quan của hội đồng xét xử có xu hướng giảm hàng năm[1

Bên cạnh những thành quả đạt được, hoạt động tố tụng vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, đặc biệt là giai đoạn điều tra và xét xử vẫn còn để nhiều án oan, sai dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, người bị hại cũng như các đương sự trong vụ án hình sự, vụ việc dân sự, kinh tế bị xâm hại nghiêm trọng, gây mất lòng tin của nhân dân đối với công lý, giảm sút uy tín của cơ quan bảo vệ pháp luật. Trong 3 năm (2011-2014), các cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố, điều tra 219.506 vụ với 338.379 bị can, trong đó có 71 vụ án oan, sai với số tiền bồi thường lên đến hơn 30 tỷ đồng.

Luật sư luôn đóng vai trò chính trong việc làm sáng tỏ hầu hết các vụ án oan, sai. Những “chuyên gia pháp lý” với lòng yêu nghề, sự dũng cảm và tôn chỉ bảo vệ công lý đã đấu tranh bền bỉ, “mưu trí” để chỉ ra những chứng cứ ngụy tạo, các vi phạm tố tụng nghiêm trọng, sự thật được làm sáng tỏ, bảo đảm công lý được thực thi. Nhưng có thể thấy vai trò của luật sư trong các vụ án oan, sai đều ở thời điểm mà người bị oan đang phải “chấp hành án”, có nghĩa những giai đoạn đầu của tố tụng, luật sư chưa thực sự được nhìn nhận và tôn trọng tương xứng với vai trò là “người chiến sĩ dấn thân vì công lý” cũng như trong việc phòng, chống án oan, sai.

Nguyên nhân dẫn đến những vụ án oan, sai đó là:

- Do năng lực, trình độ của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán còn hạn chế; có biểu hiện bệnh thành tích, nôn nóng trong giải quyết vụ án, tin tưởng hoàn toàn vào lời nhận tội của bị can, bị cáo; việc thu thập, đánh giá chứng cứ chưa thật đầy đủ, khách quan, toàn diện, từ đó có thái độ đối xử với người bị bắt, bị can, bị cáo như là người có tội..., nên tình trạng ép cung, bức cung trong giai đoạn khởi tố, điều tra của điều tra viên với người bị tạm giam, bị can vẫn còn diễn ra. Công tác kiểm sát quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án chưa theo sát diễn biến vụ việc, thiếu kiểm tra các “tình tiết phạm tội” trong vụ án hình sự, các chi tiết trong án dân sự dẫn đến hiện tượng chỉ dựa vào kết luận điều tra để truy tố. Trong xét xử vẫn chủ yếu dựa vào hồ sơ nên hình thành “án tại hồ sơ” mà ngại “lật giở” lại các tình tiết, nội dung của vụ án. Việc ra các quyết định thi hành án còn vi phạm về thời gian, ra quyết định không đúng, không đủ các nội dung trong quyết định, bản án của tòa án;

- Việc giám định trong quá trình tố tụng còn “yếu và thiếu”, giám định lĩnh vực xây dựng còn gặp nhiều khó khăn về kinh phí thuê mướn nhân công, thuê và vận chuyển máy móc thiết bị chuyên dùng đến nơi giám định. Việc giám định trong lĩnh vực tài chính rất chậm, kéo dài do lựa chọn phương pháp, cách thức, khối lượng công việc lớn, quá khả năng của tổ chức giám định, do vậy nhiều vụ án phải tạm đình chỉ điều tra hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn do chưa có kết luận giám định, chất lượng giám định trong một số trường hợp chưa bảo đảm, còn chung chung. Người giám định trong nhiều trường hợp không hợp tác, “né tránh” việc tham gia tố tụng vì ngại giải thích, trình bày trước tòa, nhất là án tham nhũng, án kinh tế, gây khó khăn về căn cứ trong quá trình tranh tụng, làm sáng tỏ vụ việc[2].

- Pháp luật tố tụng còn thiếu quy định cụ thể về căn cứ, cách thức trưng cầu để bảo đảm sự độc lập, khách quan và hiệu quả của hoạt động tố tụng và hoạt động giám định; cơ chế xem xét, đánh giá và sử dụng kết luận giám định trong hoạt động tố tụng với tư cách là một loại chứng cứ đặc biệt trong hoạt động tố tụng, những trường hợp bắt buộc người giám định tư pháp phải có mặt tham dự phiên tòa để trình bày và bảo vệ kết quả giám định chưa được quy định cụ thể thành điều luật. Các quy định về bắt và tạm giữ vẫn còn nghiêng về “cưỡng chế” vì người bị tạm giữ phải được biết lý do mình bị tạm giữ, được giải thích về quyền và nghĩa vụ, trình bày lời khai, khiếu nại việc tạm giữ. Người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai, được hỏi và thu thập chứng cứ từ người tạm giữ, bị can (quyền bào chữa có từ khi người bị tình nghi phạm tội). Tuy nhiên, trong thực tế các quy định này không có hiệu quả một phần là do rào cản từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng, một phần do vai trò luật sư chưa được thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật.

- Vai trò của luật sư trong từng giai đoạn của vụ án chưa thể hiện tính quyết liệt, một phần do rào cản từ cơ quan tiến hành tố tụng như gặp bị can, bị cáo trong vụ án hình sự, dự hỏi cung, đối chất, thực nghiệm điều tra thường không thường xuyên đầy đủ và kịp thời, một phần do trách nhiệm và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một số luật sư còn hạn chế. Đặc biệt trong các vụ án dân sự, luật sư có quyền chủ động gặp khách hàng để tìm hiểu, trao đổi, thu thập chứng cứ song kết quả không được là bao, vẫn còn biểu hiệu ngại “va chạm” với cơ quan tiến hành tố tụng nên kết quả có án oan, án sai là tất yếu bên cạnh các nguyên nhân đã được đề cập ở trên. Án oan, sai là một sâu chuỗi của hệ quả các giai đoạn từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong tố tụng, giám sát việc điều tra, xét xử, kết quả của việc bào chữa cho bị can, bị cáo, bảo vệ quyền và lợi ích của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, pháp nhân chưa được đảm bảo. Vai trò của luật sư trong việc đi tìm chứng cứ, tính phản biện xã hội, tranh tụng còn hạn chế, những kiến nghị giúp người bị tình nghi phạm tội kháng cáo chưa “sắc bén”, đặc biệt là phát hiện sớm những dấu hiệu, tình tiết oan, sai còn hạn chế, chưa khẳng định rõ tính khách quan, toàn diện và sự thật của từng vụ án, kết quả tranh tụng chưa cao, mục đích bảo vệ công lý chưa được bảo đảm.

Một số giải pháp sau đây có thể tham khảo trong việc phòng, chống án oan, sai:

- Cần nâng cao chất lượng, ý thức, đạo đức và tinh thần thượng tôn pháp luật của đội ngũ tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, cần thay đổi cách nhìn nhận “tích cực, đúng đắn” về vai trò của luật sư trong hoạt động tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng. Luật sư và người tiến hành tố tụng về thực chất là những đồng nghiệp của nhau, họ là những luật gia, người làm công tác pháp luật, người thực thi pháp luật, tuy cương vị và tư cách tố tụng mỗi người mỗi lúc có khác nhau. Phải nhận thấy rằng, quan hệ giữa luật sư với người tiến hành tố tụng là quan hệ bình đẳng, tôn trọng vì công lý nên luôn phụ thuộc và tương hỗ nhau trong hoạt động tư pháp.

- Để tránh việc ép cung, bức cung các đối tượng bị tình nghi phạm tội của người tiến hành tố tụng (điều tra viên) thì cần phải có luật sư - người đối trọng về trách nhiệm. Điều tra viên, kiểm sát viên giữ nhiệm vụ buộc tội còn luật sư bào chữa là người gỡ tội. Vì thế, sự tham gia của luật sư với vai trò đối trọng sẽ làm giảm tính chất “buộc tội” trong hỏi cung nói riêng và quá trình tố tụng hình sự nói chung. Nâng cao chất lượng công tác kiểm sát trong suốt quá trình tố tụng, không để sót, lọt các nội dung vụ án. Xét xử là khâu quyết định, cần mở rộng tranh tụng tại tòa, làm tốt công tác xác minh chứng cứ, cần “lắng nghe” người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự trình bày quan điểm, không nên thiên lệch về buộc tội. Luật sư cũng giữ vai trò “giám sát” việc tuân thủ các nguyên tắc, quy định pháp luật của người tiến hành tố tụng, làm cho quá trình được khách quan, công bằng hơn và tất nhiên sẽ hạn chế việc ép cung, bức cung, từ đó sẽ giảm được án oan sai.

- Cần tiếp tục nghiên cứu kết hợp với kế thừa có chọn lọc nền văn minh pháp lý các nước tiên tiến trên thế giới để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt là pháp luật tố tụng với trọng tâm bảo đảm quyền con người, quyền công dân thông qua việc bảo đảm và nâng cao vai trò, vị thế của luật sư trong hoạt động tố tụng.  

- Người làm công tác giám định tư pháp phải tham dự các phiên tòa có liên quan và trực tiếp làm rõ nội dung trong kết luận giám định và chịu trách nhiệm trước tòa về kết quả giám định đó.

- Luật sư phải có bổn phận tự mình nâng cao trình độ, kỹ năng chuyên môn; nêu gương trong việc tôn trọng, chấp hành pháp luật; tự giác tuân thủ các quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp trong hoạt động hành nghề, trong lối sống và giao tiếp xã hội. Bên cạnh đó, giới luật sư cũng cần nghiên cứu kỹ những quy định về bảo đảm quyền con người, quyền tự do dân chủ của công dân, các trường hợp được miễn và có thể được miễn trách nhiệm hình sự, thông báo việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt người, tạm giữ, tạm giam, khởi tố bị can, hỏi cung bị can và các kết luận giám định tư pháp, trình tự thủ tục thi hành án dân sự, hình sự; nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, đặc biệt là kết luận điều tra, bản cáo trạng, các chứng cứ liên quan đến vụ án, đánh giá, phân tích khách quan đến từng chi tiết của chứng cứ, tài liệu. Gặp gỡ, trao đổi với bị can, bị cáo trong án hình sự hoặc khách hàng trong án dân sự, hành chính, lao động, hôn nhân gia đình, kinh tế bằng nghiệp vụ của mình tìm ra sự thật khách quan của vụ án, phát hiện những dấu hiệu oan, sai trong từng giai đoạn. Lấy “hòa giải” là phương thức hữu hiệu trong án dân sự, chọn trung tâm trọng tài là cách giải quyết tốt nhất trong án kinh tế, coi trọng chứng cứ trong án hình sự, lấy nguyên tắc suy đoán vô tội là sự chỉ đạo xuyên suốt quá trình bào chữa của luật sư.